Có những từ ta dùng suốt đời mà chưa từng tự hỏi chúng đến từ đâu. Đến khi biết rồi, mới chợt nhận ra, hóa ra mình đã hiểu sai một cách rất tự nhiên.
Trong tiếng Việt, “bãi tha ma” là một cụm từ quen thuộc dùng để chỉ nơi chôn cất người mất, tương tự như nghĩa trang, nghĩa địa nhưng sắc thái có phần gợi lên cảm giác u tịch, rờn rợn, thậm chí mang màu sắc tâm linh. Nhiều người vẫn vô thức cho rằng “tha ma” là “tha con ma về”, giống như cách nói “quạ tha mồi”. Thực tế, “ma” trong “tha ma” ở đây chẳng liên quan gì đến con ma cả.
“Tha ma” thực chất là một biến âm của “thâm ma”, rút gọn từ cụm “thâm ma xá na” (深魔舍那). Đây là cách người Hoa phiên âm từ “śmaśāna” trong tiếng Phạn, mang nghĩa là nghĩa địa, nơi chôn cất người chết. Qua quá trình vay mượn và biến đổi ngữ âm, tiếng Việt tiếp nhận từ này và dần đọc thành “tha ma”. Như vậy, “tha ma” chỉ là một từ gốc Sankrit mà tiếng Việt đã mượn thông qua tiếng Hán.
Câu chuyện về “tha ma” cũng mở ra một hiểu lầm phổ biến hơn, đó là cứ hễ thấy chữ “ma” là liên tưởng ngay đến ma quỷ. Trên thực tế, tiếng Việt có không ít từ chứa chữ “ma” nhưng hoàn toàn vô can với thế giới siêu nhiên, nay xin được “giải oan” cho những chữ này:
“Ma cô” (kẻ dắt gái) chỉ kẻ môi giới mại dâm, là phiên âm tiếng Pháp của “maquereau”, mà Từ điển Pháp Việt của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam do Lê Khả Kế làm Tổng biên tập (Agence de Coopération Culturelle et Technique, 1981) đã dịch là…
Hay như “ma lanh” là phiên âm tiếng Pháp của “malin”, nghĩa là “khôn ngoan, thông minh”.
Còn có “ma túy” là một từ Hán Việt, vốn có Hán tự là 麻醉, trong đó ma (麻) có nghĩa là “tê dại”, còn “tuý”( 醉) có nghĩa là “say”, ghép lại để chỉ trạng thái gây mê, gây nghiện cho cơ thể.
Điểm chung của tất cả những chữ “ma” trong các từ nói trên và “ma” trong “tha ma” đều không có liên quan gì đến “ma” (魔) trong “ma quỷ” cả. Đó chỉ là sự trùng hợp về âm, không phải về nghĩa. Khi tách lớp nghĩa ra khỏi cảm giác quen thuộc, ta mới thấy tiếng Việt là một dòng chảy ngôn ngữ sống động, tiếp nhận và biến đổi từ nhiều nền văn hóa khác nhau.
Hiểu đúng một chữ, đôi khi cũng là hiểu thêm một lát cắt của lịch sử. Và biết đâu, từ những hiểu lầm nho nhỏ ấy, ta lại thêm yêu tiếng Việt vì sự phong phú và tinh tế mà nó đang mang trong mình.
Trong tiếng Việt, “bãi tha ma” là một cụm từ quen thuộc dùng để chỉ nơi chôn cất người mất, tương tự như nghĩa trang, nghĩa địa nhưng sắc thái có phần gợi lên cảm giác u tịch, rờn rợn, thậm chí mang màu sắc tâm linh. Nhiều người vẫn vô thức cho rằng “tha ma” là “tha con ma về”, giống như cách nói “quạ tha mồi”. Thực tế, “ma” trong “tha ma” ở đây chẳng liên quan gì đến con ma cả.
“Tha ma” thực chất là một biến âm của “thâm ma”, rút gọn từ cụm “thâm ma xá na” (深魔舍那). Đây là cách người Hoa phiên âm từ “śmaśāna” trong tiếng Phạn, mang nghĩa là nghĩa địa, nơi chôn cất người chết. Qua quá trình vay mượn và biến đổi ngữ âm, tiếng Việt tiếp nhận từ này và dần đọc thành “tha ma”. Như vậy, “tha ma” chỉ là một từ gốc Sankrit mà tiếng Việt đã mượn thông qua tiếng Hán.
“Ma cô” (kẻ dắt gái) chỉ kẻ môi giới mại dâm, là phiên âm tiếng Pháp của “maquereau”, mà Từ điển Pháp Việt của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam do Lê Khả Kế làm Tổng biên tập (Agence de Coopération Culturelle et Technique, 1981) đã dịch là…
Hay như “ma lanh” là phiên âm tiếng Pháp của “malin”, nghĩa là “khôn ngoan, thông minh”.
Còn có “ma túy” là một từ Hán Việt, vốn có Hán tự là 麻醉, trong đó ma (麻) có nghĩa là “tê dại”, còn “tuý”( 醉) có nghĩa là “say”, ghép lại để chỉ trạng thái gây mê, gây nghiện cho cơ thể.
Điểm chung của tất cả những chữ “ma” trong các từ nói trên và “ma” trong “tha ma” đều không có liên quan gì đến “ma” (魔) trong “ma quỷ” cả. Đó chỉ là sự trùng hợp về âm, không phải về nghĩa. Khi tách lớp nghĩa ra khỏi cảm giác quen thuộc, ta mới thấy tiếng Việt là một dòng chảy ngôn ngữ sống động, tiếp nhận và biến đổi từ nhiều nền văn hóa khác nhau.
Hiểu đúng một chữ, đôi khi cũng là hiểu thêm một lát cắt của lịch sử. Và biết đâu, từ những hiểu lầm nho nhỏ ấy, ta lại thêm yêu tiếng Việt vì sự phong phú và tinh tế mà nó đang mang trong mình.
(Tham khảo “Rong chơi miền chữ nghĩa”, tập 2)
Lê Trọng Nghĩa tổng hợp