Trải qua những thời kỳ đấu tranh dựng nước giữ nước, Lê Thánh Tông, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông,... lần lượt là những tôn danh do các vua đời sau đặt cho những đế vương đời trước. Vậy “Tông” (hoặc “Tổ”) trong miếu hiệu của vua là từ đâu mà ra?
Hiểu đơn giản rằng, đế hiệu là tên triều đại của một vị vua được công bố ngay trong lễ đăng quang để xưng tôn với thần dân trăm họ. Ví dụ: Lê Tư Thành (triều đại Lê Sơ).
Niên hiệu được xuất phát từ khẩu hiệu hay phương châm trị vì (niên hiệu của vua Lê Tư Thành là Hồng Đức).
Tôn hiệu là danh hiệu tôn kính cho những người được tôn quý, thường hay được nhắc đến ở những vị Thái thượng hoàng hay Hoàng thái hậu, như Quang Thục Hoàng thái hậu là thân mẫu vua Lê Thánh Tông.
Thánh thụy (thụy hiệu) xuất hiện sau khi vua băng hà. Ví như vua Lê Thánh Tông có thụy hiệu là “Sùng Thiên Quảng Vận, Cao Minh Quang Chính, Chí Đức Đại Công, Thánh Văn Thần Võ, Đạt Hiếu Thuần Hoàng đế”, và miếu hiệu Thánh Tông.
Vậy ra miếu hiệu chính là tên dùng trong tông miếu dành cho các vị quân chủ sau khi các ngài đã qua đời. Miếu hiệu thường có một trong hai chữ: “Tổ” (祖) dùng để chỉ vị vua sáng lập triều đạ vị vua sáng lập triều đại, người đặt nền móng ban đầu; hoặc “Tông” (宗) với những vị vua kế nghiệp được dành cho các vị vua kế nghiệp, tiếp nối và phát triển cơ đồ của tiền nhân. Vì vậy, khi nhìn vào miếu hiệu, ta có thể phần nào nhận ra vị trí của một vị vua trong dòng chảy lịch sử.
Tuy nhiên, lịch sử không phải lúc nào cũng tuân theo khuôn mẫu tuyệt đối. Ngoài những khuân mẫu, còn có những trường hợp ngoại lệ như vua Trần Cảnh. Trần Cảnh dù là vị vua đầu tiên của triều Trần, nhưng ông lại không mang miếu hiệu “Tổ”, bởi khi đó phụ thân ngài là Thái thượng hoàng Trần Thừa còn sống. Do đó, miếu hiệu của Trần Thừa là Thái Tổ, còn Trần Cảnh là Thái Tông. Điều này cho thấy cách đặt miếu hiệu còn phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Không chỉ tồn tại trong cung đình, chữ “tông” còn ăn sâu vào đời sống ngôn ngữ.
Trong bài “Lạm bàn về tông hay tôn”, Lương Đức Mến có đề cập “tông” có các từ với ý nghĩa liên quan như sau: ông tông, ông tổ đầu tiên gọi là "tổ", thứ nữa là "tông"; "tông miếu” nghĩa là miếu thờ; tục gọi các đời ông bà ta ngày trước là "tổ tông" (ngày nay thường gọi là tổ tiên); họ hàng dòng trưởng là "đại tông", dòng thứ là "tiểu tông", cùng họ gọi là "đồng tông".
Trong dân gian, “tông” xuất hiện cũng dựa trên ý nghĩa “dòng dõi, huyết thống từ cha truyền con nối” hay gọi là “truyền tử”: “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống” hay “Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”.
Theo An Chi, học giả, nhà nghiên cứu và tác giả của bộ “Chuyện Đông chuyện Tây”, khi so sánh “Tông” và “Tôn” ta thấy có sự khác nhau về chính tả, còn ngữ nghĩa và ngữ âm vẫn không thay đổi. Hai từ này cùng là danh từ với các ý nghĩa như tổ tiên: liệt tổ liệt tông, đích trưởng tử: tông huynh, miếu thờ tổ tiên: tông miếu, họ hàng: đồng tông, cái gốc làm mẫu: nhất đại thi tông,... Kể từ đời vua Thiệu Trị (húy danh là Nguyễn Phúc Miên Tông), do kị húy, con cháu dần chuyển “Tông” thành “Tôn” trong họ, tên và danh từ khác.
Kết lại, nguyên tắc đơn giản để phân biệt sự khác nhau trong cách tôn xưng chính là vua sáng lập triều đại là “Tổ”, vua kế vị là “Tông”. Bên cạnh đó, “tông” và “tôn” không khác nhau về nghĩa khi cấu thành các từ có hàm ý nhắc đến dòng họ, gốc rễ, hậu duệ, gia tộc, cái chủ yếu,...
Trong chế độ quân chủ xưa, mỗi vị vua không chỉ có một tên gọi. Bên cạnh tên húy, Các đấng quân vương ngoài tên húy còn có đế hiệu, niên hiệu, miếu hiệu, tôn hiệu và thánh thụy. Trong đó, miếu hiệu chính là phần xuất hiện các chữ “Tổ” và “Tông”.Hiểu đơn giản rằng, đế hiệu là tên triều đại của một vị vua được công bố ngay trong lễ đăng quang để xưng tôn với thần dân trăm họ. Ví dụ: Lê Tư Thành (triều đại Lê Sơ).
Niên hiệu được xuất phát từ khẩu hiệu hay phương châm trị vì (niên hiệu của vua Lê Tư Thành là Hồng Đức).
Tôn hiệu là danh hiệu tôn kính cho những người được tôn quý, thường hay được nhắc đến ở những vị Thái thượng hoàng hay Hoàng thái hậu, như Quang Thục Hoàng thái hậu là thân mẫu vua Lê Thánh Tông.
Thánh thụy (thụy hiệu) xuất hiện sau khi vua băng hà. Ví như vua Lê Thánh Tông có thụy hiệu là “Sùng Thiên Quảng Vận, Cao Minh Quang Chính, Chí Đức Đại Công, Thánh Văn Thần Võ, Đạt Hiếu Thuần Hoàng đế”, và miếu hiệu Thánh Tông.
Vậy ra miếu hiệu chính là tên dùng trong tông miếu dành cho các vị quân chủ sau khi các ngài đã qua đời. Miếu hiệu thường có một trong hai chữ: “Tổ” (祖) dùng để chỉ vị vua sáng lập triều đạ vị vua sáng lập triều đại, người đặt nền móng ban đầu; hoặc “Tông” (宗) với những vị vua kế nghiệp được dành cho các vị vua kế nghiệp, tiếp nối và phát triển cơ đồ của tiền nhân. Vì vậy, khi nhìn vào miếu hiệu, ta có thể phần nào nhận ra vị trí của một vị vua trong dòng chảy lịch sử.
Không chỉ tồn tại trong cung đình, chữ “tông” còn ăn sâu vào đời sống ngôn ngữ.
Trong bài “Lạm bàn về tông hay tôn”, Lương Đức Mến có đề cập “tông” có các từ với ý nghĩa liên quan như sau: ông tông, ông tổ đầu tiên gọi là "tổ", thứ nữa là "tông"; "tông miếu” nghĩa là miếu thờ; tục gọi các đời ông bà ta ngày trước là "tổ tông" (ngày nay thường gọi là tổ tiên); họ hàng dòng trưởng là "đại tông", dòng thứ là "tiểu tông", cùng họ gọi là "đồng tông".
Trong dân gian, “tông” xuất hiện cũng dựa trên ý nghĩa “dòng dõi, huyết thống từ cha truyền con nối” hay gọi là “truyền tử”: “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống” hay “Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”.
Kết lại, nguyên tắc đơn giản để phân biệt sự khác nhau trong cách tôn xưng chính là vua sáng lập triều đại là “Tổ”, vua kế vị là “Tông”. Bên cạnh đó, “tông” và “tôn” không khác nhau về nghĩa khi cấu thành các từ có hàm ý nhắc đến dòng họ, gốc rễ, hậu duệ, gia tộc, cái chủ yếu,...
