“Đầu cua tai nheo”, lần theo dấu vết một thành ngữ quen miệng mà ít người hiểu đúng

Phan Hiền
Phan Hiền
Phản hồi: 0

Phan Hiền

Thành viên nổi tiếng
Thành ngữ thì có vô vàn. Nhưng có những câu thành ngữ ta dùng rất tự nhiên, nhưng đã mấy ai từng dừng lại để hỏi: vì sao lại nói như thế. “Đầu cua tai nheo” là một trường hợp như vậy.
Trong đời sống hằng ngày, Khi nói về nguyên do tận cùng của một vấn đề hoặc toàn bộ chi tiết, bao gồm những điều nhỏ nhặt nhất, ta thường dùng thành ngữ “Đầu cua tai nheo". Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức cũng giảng rằng cụm này đồng nghĩa với “đầu đuôi gốc ngọn”, tức hiểu tường tận câu chuyện từ đầu đến cuối. “Đầu cua” thì dễ hình dung, hẳn ai cũng biết, bởi đó là một bộ phận rất nhỏ của con cua. Nhưng “tai nheo” là gì, và vì sao cá lại có tai, thì không phải ai cũng biết.
1769100011082.png
Trước hết xin nói về chữ "nheo". Dựa trên sự tương xứng với chữ "cua", ta có thể suy ra "nheo" ở đây là tên một họ cá. Những loài thuộc họ cá nheo hầu hết đều có ngoại hình da trơn, không vảy, đầu hẹp, miệng rộng, mọc râu ở hai bên hàm trên, sợi râu to, tương đối dài khá ấn tượng và riêng biệt. Tên gọi "cờ đuôi nheo" của loại cờ có hình đuôi cá nhiều khả năng cũng bắt nguồn từ họ cá này.

Vậy “tai nheo" ở đây là gì? Muốn hiểu “tai nheo”, trước hết phải quay lại với chữ “nheo”. Đây hẳn không phải một tính từ hay cách nói dân gian. Dựa trên sự tương xứng với chữ "cua", ta có thể suy ra "nheo" ở đây là tên một họ cá. Những loài thuộc họ cá nheo hầu hết đều có ngoại hình da trơn, không vảy, đầu hẹp, miệng rộng, mọc râu ở hai bên hàm trên, sợi râu to, tương đối dài khá ấn tượng và riêng biệt. Tên gọi "cờ đuôi nheo" của loại cờ có hình đuôi cá nhiều khả năng cũng bắt nguồn từ họ cá này.

Vấn đề nằm ở chữ “tai”, cá thì sao lại có tai? Và thực tế, theo học giả An Chi, “tai” trong “tai nheo” không phải là “tai” theo nghĩa trong từ “lỗ tai”, mà là một từ gốc Hán, vốn có Hán tự viết là 鰓, có nghĩa là (cái) mang cá. Trong các từ điển Hán văn cổ, chữ này được giảng rõ là bộ phận hô hấp của cá. Và trong Dictionnaire classique de la langue chinoise của F.s. Couvreur, từ này được giảng là “ouïes de poisson” còn Mathews’ Chinese-English Dictionary cũng giảng là “the gills of a fish”. Vậy “tai nheo” là mang của “cá nheo”.

Khi ghép lại, cả “đầu cua" và “tai nheo" đều là những bộ phận rất nhỏ bé, khó để ý. Chính đặc điểm đó, mà thành ngữ “đầu cua tai nheo" được dùng để chỉ việc biết rõ mọi chi tiết, kể cả những điều vụn vặt, tưởng chừng không đáng kể.





Lê Trọng Nghĩa tổng hợp.
 


Đăng nhập một lần thảo luận tẹt ga
Back
Top