Hẳn ai trong chúng ta cũng đều biết đến câu nói “cố quá thành quá cố”. Đây là một câu nói vui trong dân gian, sử dụng lối chơi chữ đảo từ “cố quá” với “quá cố”. Vậy cùng là âm “cố” nhưng hai từ này liệu có giống nhau về ý nghĩa?
Nhưng sang đến “quá cố”, chữ “cố” lại mang một nghĩa hoàn toàn khác, hiểu theo với vai trò là từ Hán Việt, dùng để chỉ người đã qua đời. Theo “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức (1970, tr.1184), “quá cố” (過故) có nghĩa là “qua đời, chết đã lâu”; từ “cố” (故) ở đây có nghĩa là chết. “Quá cố” vì thế thường xuất hiện trong những ngữ cảnh trang trọng, mang ý nghĩa kính trọng người đã mất.
Vì vậy, dù cùng là âm “cố”, nhưng hai từ “cố” trong câu trên lại mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Từ “cố” thứ nhất là từ thuần Việt, chỉ sự nỗ lực. Còn từ “cố” thứ hai là từ Hán Việt, chỉ sự qua đời. “Cố quá thành quá cố” hàm ý rằng nếu chúng ta cố gắng quá mức mà chẳng cân nhắc đến sức khỏe hay giới hạn của bản thân có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, thậm chí là nguy hiểm đến tính mạng. Câu nói trên nhắc nhở chúng ta khi làm việc gì đó, ta đều nên biết giới hạn của bản thân và điều chỉnh công việc sao cho phù hợp với sức mình.
Lối chơi chữ đảo từ “cố quá” và “quá cố” với một bên là cố gắng quá mức, một bên là hậu quả không ai mong muốn. Sự chuyển nghĩa ấy nhanh, gọn và đủ để khiến người nghe vừa bật cười, vừa suy ngẫm. Và đằng sau câu nói tưởng chừng hài hước đó là một lời nhắc nhở rất đời. Nỗ lực là điều cần thiết, nhưng nếu vượt quá giới hạn của bản thân, không biết điểm dừng, thì cái giá phải trả có thể không hề nhỏ.
“Cố quá thành quá cố” vì thế không chỉ là một câu nói chơi chữ. Nó là minh chứng cho sự linh hoạt của tiếng Việt, đồng thời là một kinh nghiệm sống được gói gọn trong vài từ ngắn gọn mà thấm thía.
Từ “cố” có nhiều ý nghĩa khác nhau. Theo “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên (2003, tr.204), từ “cố” trong “cố quá” có nghĩa là “đưa sức, đưa tri nhiều hơn bình thường”. Trong “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức (1970, tr.208), từ “cố” cũng được giải thích với nét nghĩa tương tự nhưng rõ ràng và dễ hiểu hơn: “nhiều, tham lam, quá sức”. Ví dụ như ăn cho cố, làm cho cố. Nên ở vế “cố quá”, với “cố” là từ thuần Việt, mang nghĩa cố gắng, dốc sức nhiều hơn bình thường, thậm chí vượt quá khả năng của bản thân. Cách dùng này rất gần gũi trong đời sống, thường đi kèm với sắc thái hơi quá đà, thiếu cân nhắc.Nhưng sang đến “quá cố”, chữ “cố” lại mang một nghĩa hoàn toàn khác, hiểu theo với vai trò là từ Hán Việt, dùng để chỉ người đã qua đời. Theo “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức (1970, tr.1184), “quá cố” (過故) có nghĩa là “qua đời, chết đã lâu”; từ “cố” (故) ở đây có nghĩa là chết. “Quá cố” vì thế thường xuất hiện trong những ngữ cảnh trang trọng, mang ý nghĩa kính trọng người đã mất.
Lối chơi chữ đảo từ “cố quá” và “quá cố” với một bên là cố gắng quá mức, một bên là hậu quả không ai mong muốn. Sự chuyển nghĩa ấy nhanh, gọn và đủ để khiến người nghe vừa bật cười, vừa suy ngẫm. Và đằng sau câu nói tưởng chừng hài hước đó là một lời nhắc nhở rất đời. Nỗ lực là điều cần thiết, nhưng nếu vượt quá giới hạn của bản thân, không biết điểm dừng, thì cái giá phải trả có thể không hề nhỏ.
“Cố quá thành quá cố” vì thế không chỉ là một câu nói chơi chữ. Nó là minh chứng cho sự linh hoạt của tiếng Việt, đồng thời là một kinh nghiệm sống được gói gọn trong vài từ ngắn gọn mà thấm thía.
Tài liệu tham khảo:
Hoàng Phê (Chủ biên). (2003). Từ điển tiếng Việt. NXB Đà Nẵng.
Lê Văn Đức & các tác giả khác. (1970). Việt Nam tự điển (Quyển thượng: A-L). NXB Khai Trí.
Đính kèm
Sửa lần cuối:
