Người đòi '4,5 tỷ đồng trong cốp xe SH' thua kiện

maimaipress
Minh Phương
Phản hồi: 1

Minh Phương

Thành viên nổi tiếng
Tòa xác định ông Đức không đủ chứng cứ chứng minh đã để 4,5 tỷ đồng trong cốp xe SH Mode mang đến đặt cọc mua nhà, nên bác yêu cầu khởi kiện.

TAND TP HCM vừa tống đạt bản án phúc thẩm lần hai trong vụ tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa nguyên đơn là ông Đức (47 tuổi) và bị đơn là vợ chồng bà Tú.

HĐXX phúc thẩm bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm lần hai của TAND Khu vực 3 - TP HCM, tuyên vợ chồng bà Tú không phải trả cho ông Đức số tiền đặt cọc 4,5 tỷ đồng và tiền phạt cọc 5,5 tỷ đồng. Như vậy, sau quá trình tố tụng kéo dài nhiều năm, qua nhiều cấp xét xử, yêu cầu của nguyên đơn đã bị tòa bác. Kết quả này trái ngược với phán quyết tại các bản án sơ thẩm và phúc thẩm lần đầu.

1770707855888.png

Thừa phát lại thực nghiệm việc bỏ 4,5 tỷ đồng (9 cọc 100 tờ mệnh giá 500.000 đồng) vào cốp xe SH. Ảnh: Văn phòng Thừa phát lại Bến Thành

Theo bản án phúc thẩm đã có hiệu lực, các tài liệu do nguyên đơn cung cấp gồm: bản sao clip ghi lại cuộc nói chuyện tại quán cà phê, được cho là thể hiện việc bị đơn xác nhận đã nhận 5,5 tỷ đồng tiền cọc; văn bản viết tay không ghi ngày, tháng, được cho là do bà Tú lập, cam kết trả tiền cọc nhiều lần; cùng vi bằng lập ngày 15/12/2025 của Văn phòng Thừa phát lại quận 8 về việc kiểm tra khả năng cốp xe SH Mode có thể chứa số tiền 4,5 tỷ đồng.

Những tài liệu này được nguyên đơn sử dụng để chứng minh đã giao đủ tiền đặt cọc và cho rằng bên bán vi phạm thời hạn ký hợp đồng mua bán.

Tuy nhiên, HĐXX cho rằng clip do nguyên đơn cung cấp không chứa nội dung cần chứng minh. Đoạn hội thoại được quay lén, rời rạc, không phản ánh đầy đủ diễn biến cuộc nói chuyện và không thể hiện việc bị đơn tự nguyện phát ngôn, nên không đủ cơ sở để chứng minh sự thật khách quan của vụ việc.

Đối với văn bản viết tay, HĐXX nhận định tài liệu này không thể hiện việc bị đơn đã nhận đủ tiền đặt cọc như nguyên đơn trình bày, mà chủ yếu đề cập các nội dung liên quan đến việc nguyên đơn làm thủ tục ra sổ, cung cấp bản vẽ và thời điểm đi công chứng. Văn bản còn có những thỏa thuận bị cho là không hợp lý, như việc bên bán phải trả lại tiền cho bên mua khi công chứng ra sổ.

Trong khi đó, bị đơn khẳng định chưa nhận số tiền đặt cọc 4,5 tỷ đồng và cung cấp vi bằng lập ngày 1/8/2025 về việc thực nghiệm cho số tiền này vào cốp hai loại xe SH. Kết quả thực nghiệm cho thấy, dù thử đủ ba cách, số tiền trên đều không thể để vừa trong cốp xe.

Như vậy, các vi bằng do thừa phát lại lập mà các bên cung cấp cho tòa có kết quả trái ngược nhau về việc số tiền 4,5 tỷ đồng, mệnh giá 500.000 đồng, có thể chứa trong cốp xe hay không.

Theo HĐXX, nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ trực tiếp chứng minh đã giao số tiền 4,5 tỷ đồng cho bị đơn vào ngày 6/1/2018. Vì vậy, cần xem xét các tài liệu, chứng cứ khác do các bên xuất trình để xác định có hay không việc giao nhận số tiền này.

Tòa cho rằng, ngay cả trong trường hợp số tiền 4,5 tỷ đồng có thể chứa gọn trong cốp xe, vẫn không có căn cứ chứng minh rằng vào ngày 6/1/2018, nguyên đơn có sẵn số tiền trên, đã mang đến nhà và giao cho bị đơn. Do đó, dù vi bằng được xác định là nguồn chứng cứ, trong vụ án này các vi bằng không đủ cơ sở để chứng minh việc giao nhận 4,5 tỷ đồng.

Hồ sơ vụ án thể hiện, ngày 15/11/2017, ông Đức ký hợp đồng đặt cọc một tỷ đồng với vợ chồng bà Tú để mua 2/4 nhà đất tại Bến Phú Lâm, quận 6 (nay là phường Bình Tây), TP HCM.

Đến ngày 6/1/2018, hai bên hủy hợp đồng cũ, ký hợp đồng đặt cọc mới, theo đó ông Đức đặt cọc 5,5 tỷ đồng để mua toàn bộ nhà đất của vợ chồng bà Tú với giá 12,6 tỷ đồng.

Theo trình bày của ông Đức, sau khi công chứng hợp đồng đặt cọc mới, tối cùng ngày ông mang thêm 4,5 tỷ đồng tiền mặt, đựng trong túi nylon đen, bỏ vào cốp xe SH và giao cho vợ chồng bà Tú. Hai bên không lập biên bản giao nhận tiền. Khi hết thời hạn thỏa thuận, vợ chồng bà Tú không thực hiện hợp đồng mua bán. Sau nhiều lần yêu cầu, phía bị đơn chỉ trả cho ông Đức một tỷ đồng.

Cho rằng vợ chồng bà Tú không hoàn trả đủ số tiền đã nhận, ông Đức khởi kiện, yêu cầu trả 4,5 tỷ đồng tiền cọc còn thiếu và tiền phạt, tổng cộng 10 tỷ đồng.

Quá trình xét xử, vợ chồng bà Tú xác nhận đã ký hai hợp đồng đặt cọc với ông Đức. Việc hủy hợp đồng ban đầu để ký hợp đồng ngày 6/1/2018 với giá trị lớn hơn, theo bị đơn, là theo đề nghị của ông Đức nhằm thuận lợi vay ngân hàng. Bị đơn cho rằng thực tế chỉ nhận một tỷ đồng tiền cọc, phủ nhận việc ông Đức giao thêm 4,5 tỷ đồng tiền mặt; nếu có giao số tiền lớn như vậy thì phải có giấy biên nhận.

Bị đơn cũng trình bày, sau khi ký hợp đồng đặt cọc, ông Đức rao bán lại nhà đất với giá cao hơn nhưng không hoàn tất việc đo vẽ, tách thửa đúng hạn, sau đó thông báo không tiếp tục mua và yêu cầu trả tiền cọc, phạt tổng cộng 11 tỷ đồng (trong đó có một tỷ đồng đã được hoàn trả). Bị đơn cho biết có lần khi đang đi đón con, bà bị ông Đức cùng nhiều người chặn đường, ép vào quán cà phê để yêu cầu trả tiền, nên đã trình báo chính quyền địa phương. UBND phường mời các bên làm việc. Tại đây, ông Đức thừa nhận hai bên ký hợp đồng đặt cọc để mua nhà đất với giá 5,8 tỷ đồng, không phải 12,6 tỷ đồng.

Tháng 10/2022, TAND quận 6 xét xử sơ thẩm lần đầu, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đức, buộc vợ chồng bà Tú trả 4,5 tỷ đồng tiền cọc còn lại theo hợp đồng ngày 6/1/2018.

Không đồng ý với phán quyết, phía bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án, nguyên đơn kháng cáo một phần.

Ngày 7/3/2023, TAND TP HCM xét xử phúc thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc vợ chồng bà Tú hoàn trả 4,5 tỷ đồng tiền cọc còn thiếu và hơn 2,7 tỷ đồng tiền phạt, tổng cộng 7,2 tỷ đồng. Tòa phúc thẩm xác định lỗi dẫn đến việc không thực hiện được hợp đồng chuyển nhượng thuộc về vợ chồng bà Tú.

Tháng 8/2023, VKSND Cấp cao tại TP HCM (nay là Viện phúc thẩm VKSND Tối cao tại TP HCM) ban hành quyết định kháng nghị, cho rằng cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm có nhiều vi phạm nghiêm trọng về tố tụng và đánh giá chứng cứ, đề nghị hủy án.

Một tháng sau, TAND Cấp cao tại TP HCM (nay là Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại TP HCM) xét xử giám đốc thẩm, chấp nhận kháng nghị của VKS, tuyên hủy toàn bộ hai bản án nêu trên.

Đến tháng 8/2025, TAND Khu vực 3 xử sơ thẩm lần 2 - bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

* Tên các đương sự đã thay đổi

Nguồn: vnexpress
 


Đăng nhập một lần thảo luận tẹt ga
DL: 10 Tháng 02 năm 2026
AL:
Ngày:
Tháng:
Năm:
Back
Top